Về “Quảng bá văn hoá trong và ngoài nước”

19/06/20071:19 SA(Xem: 377)
Về “Quảng bá văn hoá trong và ngoài nước”

Tôi xin lấy câu kết luận để mở đầu vấn đề quảng bá văn hoá: “Mỗi một người nên là sứ giả của văn hoá mình!”.

Cho đến ngày hôm nay, (hình như) khi nói đến “quảng bá văn hoá”, không những người lãnh trọng trách về văn hoá mà ngay cả những người cầm cương nẩy mực quốc gia thường tự cho mình có trách nhiệm chủ động trong việc quảng bá văn hoá đến quần chúng trong và ngoài nước. Tương quan phân cách giữa người chủ động và kẻ nhận sự quảng bá văn hoá được hình thành: một bên là lãnh đạo văn hoá, còn một bên được hướng dẫn văn hoá, một bên nhận lãnh chức vụ đưa ra ý kiến, sáng kiến về văn hoá, một bên thụ động chấp nhận, hoặc hưởng thụ hay bị ảnh hưởng.

Nhưng chính từ đây, sự quảng bá văn hoá có nguy cơ tự mâu thuẫn với chính đối tượng và mục đích của hành động quảng bá. Đối tượng của “quảng bá văn hoá” chính là văn hoá của cả một tập thể đã đồng hành và đồng tình xây dựng nên nền văn hoá ấy, trong khi động cơ và mục đích của hành động “quảng bá văn hoá” có thể biến văn hoá thành một công cụ để tuyên truyền cho mục đích riêng của người quảng bá hay văn hoá được xem là đòn bẩy cho mục đích chính trị của một nhóm người.

Mâu thuẫn nằm ở điểm, một khi văn hoá bị chính trị hoá, bị đóng khung trong chỉ thị và con người bị nhiễm thói quen chỉ hành động văn hoá theo chỉ thị, văn hoá có thể bị giản lược, chỉ còn lại cái xác không hồn, một thứ hình nộm hay con rối mặc áo thụng, bị điều khiển bởi người thợ múa rối.

Bị giản lược trong nề nếp tư duy chính trị, sinh hoạt văn hoá mất chất sống sáng tạo và tự do, trở nên phi văn hoá.

Sáng tạo và tự do là điều kiện để cho văn hoá nẩy nở, ngược lại chính văn hoá tạo nên nếp sống tinh thần cũng như nền tảng trật tự xã hội đem màu mỡ cho chính hoạt động sáng tạo trong tự do, hay nói cách khác, phát huy văn hoá là do văn hoá!

Trong bản chất, văn hoá là tiềm năng chuyển hoá không ngừng của mỗi cá nhân và tập thể vượt lên trên những nhu cầu cơ bản, chuyến hướng đến vẻ đẹp, đến trật tự văn minh, thoát khỏi hoàn cảnh vật lý và tâm lý còn thô sơ, chưa được “vun xới”. Trong khi chữ “culture” theo tiếng Latinh có nghĩa nuôi dưỡng, chăm sóc (cultura), khái niệm “văn hoá” của phương Đông nhấn mạnh thế động của văn hoá trong biến đổi chuyển hoá, mà A. Schweizer cũng đồng quan niệm khi cho rằng “văn hoá là sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của mỗi người và của tập thể” trong cuộc mưu sinh, chung sống.

Văn hoá chỉ được nẩy nở toàn diện trong tổng hợp năng động của 4 yếu tố: no ấm (kinh tế), an dân (điều kiện chính trị), truyền thống đạo đức và khát vọng nghệ thuật, khoa học. Văn hoá khởi đầu sau khi mọi hỗn loạn, tranh chấp bất ổn giữa con người với con người chấm dứt.

Thi hào Goethe cho rằng khái niệm văn hoá phải được hiểu rộng hơn, phải kể đến “cả y phục lẫn ẩm thực, cả lịch sử lẫn triết học, cả nghệ thuật lẫn khoa học, cả trò chơi trẻ con lẫn tục ngữ, cả khí hậu lẫn phong cảnh, cả kinh tế lẫn văn học, cả chính trị lẫn tư riêng…” và ngay cả hướng dẫn về những tai hại đốn rừng phá núi cũng phải được nêu ra khi đề cập đến khái niệm văn hoá.

Giản lược nó vào một trong những yếu tố kinh tế hay chính trị, vào quan niệm đạo đức khô khan hay tham vọng nghệ thuật khoa học, có nghĩa làm chết văn hoá, thay vì gây dựng nuôi nấng nó. Trồng cây sai thời tiết có thể chỉ làm thiệt một vụ mùa, nhưng làm văn hoá sai có thể hại nhiều thế hệ nếu không nói là muôn đời như người xưa đã dặn.

Bởi vì mục đích cuối cùng của văn hoá chính là sự hoàn thiện về tinh thần và đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trong quá trình mà triết gia Đức I. Kant gọi là quá trình tiến đến hoàn thiện nhân bản của toàn thể nhân loại.

Ngày nay tiến trình ấy đang xảy ra song song với tiến trình hội nhập toàn cầu, nhưng sự “hoàn thiện nhân bản” có đạt được hay không vẫn còn là câu hỏi lớn. Điều rõ rệt là xu hướng nhấn mạnh bản sắc văn hoá đang trở nên thời sự cho mỗi quốc gia. Chính Việt Nam cũng đang nỗ lực khơi dậy ý thức văn hoá dân tộc để tự nhận diện mình trên thế giới. Những hoạt động quảng bá văn hoá, bảo tồn văn hoá dân tộc đang được khuyến khích trong và ngoài nước, nhất là trên phương diện kịch nghệ, nghệ thuật, âm nhạc, nghệ thuật thứ bảy, thời trang… Tuy nhiên, việc đem một gánh hát tuồng hát chèo sang Đức, đưa một đoàn hợp xướng sang Pháp, biểu diễn thời trang áo dài xưa ở Hà Nội, Thành phố HCM, hoặc mở tiệm phở ở New York hay quán bún bò ở Sydney trước hết chỉ là những sáng kiến cá nhân hay của một nhóm người trong cảm nghĩ văn hoá riêng tư. Dù cho những hành động ấy đánh động được sự chú ý, chừng nào cuộc trao đổi hay đối thoại chưa xảy ra trên bình diện chuyển hoá ý thức văn hoá từ truyền thống đến hiện đại, từ điều kiện xã hội hiện tại sang viễn cảnh tương lai, trong đó con người có thể phát huy tính nhân bản của mình, thì những hoạt động ấy tuy tích cực nhưng chưa hoàn thành nhiệm vụ quảng bá văn hoá.

Quảng bá văn hoá trước hết là một hành động văn hoá trong nghĩa đích thực của “văn hoá” nhằm khai phóng và chuyển hoá con người, hướng dẫn con người tự ý thức về khả năng sáng tạo của chính mình, ngay cả con người đang làm văn hoá hay “lãnh đạo văn hoá”. Quan điểm của Goethe cho thấy, con người là một thực thể văn hoá. Bên cạnh bản năng tự nhiên với nhiều tuỳ thuộc nhu cầu, con người có tự do trong việc sử dụng chính năng lực của mình để chuyển hoá và nâng cao đời sống hiện tại. Năng lực chuyến hoá trong sáng tạo là khả năng văn hoá nằm sẵn trong con người, theo triết gia I. Kant, nó là khả năng của lý trí bên cạnh bản năng tự nhiên.

Nó chính là biểu hiện tự do. Không phải là thứ tự do muốn làm gì thì làm, buông thả theo những lệ thuộc bản năng thô lậu. Ngược lại nó là sự tự do thực hiện giải phóng - ở điểm này tư tưởng phương Tây gần với quan điểm của Phật học - ý nghĩa tự do nằm trong khả năng giải phóng những ràng buộc vị kỷ, chế ngự những nhu cầu thấp kém để vươn lên trong cách thế “làm đẹp mình”, đưa đến hoà nhập và hoà đồng với tập thể bằng những bước đi kỷ cương qua phương pháp huấn luyện cơ thể và tinh thần. Tương tự như phương pháp rèn luyện thiền sinh trong buổi học thư pháp vẽ vòng “KHÔNG”, nhất cử nhất động, mỗi đường nét vẽ ra đều có sự thẩm xét của thiền sư cho đến lúc chín muồi, sự quan sát nghiêm khắc được giải thể, thiền sinh phóng bút trong tự do, sáng tạo nên tác phẩm.

Cũng thế, quảng bá văn hoá cần được thực hiện trên truyền thống về kỷ cương thân xác và trau dồi tinh thần của một nhóm người hay của một dân tộc. Kỷ cương thân xác đem đến vẻ đẹp nghệ thuật, trau dồi tinh thần đem đến vẽ đẹp giải thoát, thong dong.

Hiện trạng xã hội Việt Nam ngày hôm nay đang báo động phá sản về văn hoá từ cung cách ăn ở, ứng xử ngay trên đường phố, mà nhiều thức giả đã lên tiếng về nguy cơ vong thân bản sắc văn hoá nằm trong 4 yếu tố nói trên.

Có thể nói như triết gia I. Kant, mục đích cao nhất của văn hoá được thể hiện trong một hiến chương dân sự toàn hảo, trong đó tính đồng nhất văn hoá hay bản sắc văn hoá được đúc kết từ những trao đổi ôn hoà hay đấu tranh cam go giữa cá nhân và thiên nhiên, giữa cá nhân và tập thể như một văn kiện hoà bình. Văn hoá cao nhất là sản phẩm của một bản hiến chương quốc gia được soạn thảo căn cứ vào những khái niệm về quyền lợi và nghĩa vụ của người dân, mà Nguyễn Trãi gọi là một “nền văn hiến lâu đời”, khi xác định nền văn minh đất Việt.

Trong sự hình thành bản văn hiến ấy, vấn đề giáo dục con người đóng một vai trò quan trọng: chính qua sự uốn nắn giáo dục từ tình trạng thô thiển vụng về trong cách ứng xử, từ những nhu cầu có tính bản năng ích kỷ, con người đạt đến trình độ văn hoá. Con người vừa là tác nhân văn hoá vừa là kẻ tham dự vào văn hoá tập thể. Văn hoá nhào nặn con người nhập cuộc trong xã hội và con người có năng khiếu thực tiễn về văn minh nhờ vào văn hoá.

Mỗi người mang trong mình bản sắc văn hoá của nơi chốn nó được sinh ra, lớn lên và trưởng thành, đó là tấm gương phản chiếu bản lai diện mục hay tính đồng nhất văn hoá của mỗi cá nhân. Con người mang trong mình dòng sông và núi rừng văn hoá mà nó đã lặn lội trải qua. Vượt biển khơi hay băng rừng đến nơi khác, con người tự nhận diện mình nơi tấm thẻ căn cước văn hoá mà nó đem theo trong khi đối diện với một nền văn hoá khác. Chính trên đường phố lạ, cung cách ứng xử văn hoá được nhận rõ và đánh giá. Trong quá trình hội nhập vào thế giới, nó là tấm bảng quảng cáo lớn nhất về một nền văn hoá mang những yếu tố khả dĩ được thừa nhận vào trong gia sản văn minh nhân loại.

Những yếu tố này không thể là bạo động, tạôm cắp, giết người, bất chấp pháp luật, tập quán, phong tục bản địa, mà ngược lại phải là những dấu hiệu “thiện mỹ” tích cực cho sự an lạc của thế giới.

Phải chăng tư tưởng của Đức Phật và I. Kant có điểm tương đồng khi cho rằng ĐẸP là biểu tượng của hành động đạo đức trong nghĩa tu thân và tâm, chính vẻ đẹp thể xác và tinh thần thoát ra từ mỗi con người - cũng là vẻ ngoài “mai cốt cách”, vẻ trong “tuyết tinh thần” mà Nguyễn Du tâm đắc cho vóc dáng Việt Nam - có thể đem hào quang tô điểm cho một thế giới an bình và hạnh lạc?

Từ đó mỗi người chính là sứ giả của nền văn hoá mình!

Trong ý nghĩa ấy Văn hoá Phật giáo đã và đang có trách nhiệm đóng góp vào vườn hoa văn hoá nhân loại khởi từ rèn luyện TU TÂM.

(Nhân hội thảo về “Quảng bá văn hoá trong và ngoài nước”, tháng 12. 2006)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn